LỊCH SỬ VĂN HÓA

1. Các bậc hiền tài dựng nước và giữ nước

Ngay từ buổi đầu dựng nước, đã sinh ra những bậc anh hùng huyền thoại như:

- Làng Vĩnh Ninh (xã Vĩnh Quỳnh cũ) đã sinh ra hai anh em sinh đôi Xà Công và Bạch Công (dân gian gọi là ông Rắn và ông Đất) từng giúp vua Hùng Vương thứ 6 đánh tan giặc Ma Lôi và Xích Tị; cô gái họ Trương, tục gọi là Nàng Tía, 1 võ tướng tham gia khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Định. Tưởng nhớ công ơn, nhân dân đã thờ tự 3 vị tại Đình Vĩnh Ninh.

- Tại làng Tó- Tả Thanh Oai (xã Tả Thanh Oai cũ): truyền thuyết kể rằng có 1 thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, khi bắt hến bên bờ Nhuệ Giang hiền hòa chảy qua làng, nàng đã làm say đắm lòng vua Lê Đại Hành trên đường chống Tống. Nhà vua phong làm Quí phi, hiệu là Đô hồ phu nhân, giao cho việc hậu cần, tiếp tế lương thực cho đại quân ngoài mặt trận. Nàng đã tỏ rõ tài kinh tế, khi mất trở thành Phúc thần của làng Tó và các làng Hữu Hoà, Hữu Trung (xã Hữu Hoà cũ). Cái danh Bà Chúa Hến hay Đô Hồ phu nhân trở nên bất tử, mãi lưu truyền đến nay.

- Ngô Thì Nhậm là một danh nhân văn hoá ở thế kỷ 18; 1/11 tiến sĩ thuộc gia tộc Ngô Thì của làng khoa Bảng Tả Thanh Oai; một người trí thức yêu nước, dũng cảm vượt qua mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến, thực hiện lý tưởng phục vụ cho dân, cho nước. Ngay từ khi 16 tuổi, dưới sự hướng dẫn của cha, ông đã viết thành công công trình sử học đầu tiên có tựa để "Nhị thập tứ sử toái yếu"; năm 21 tuổi, ông soạn cuốn "Tứ gia thuyết phổ"... các tác phẩm của ông đóng góp cho quốc gia, dân tộc về phương diện văn hoá, tư tưởng tôn giáo, chính trị, ngoại giao.... Năm 24 tuổi, ông đỗ Giải Nguyên, được Trịnh Sâm cử làm Hiến sát phó sứ Sơn Na; 30 tuổi đỗ Tiến sĩ, làm Đông các hiệu thư rồi thăng lên Bổ Đốc đồng Kinh Bắc. Năm 1788, khi Nguyễn Huệ lên ngôi, ông được cử làm Thượng Thư Bộ Binh để lo việc quân đội; một nhà chiến lược với kế sách Tam Điệp lẫy lừng, ngoại giao số 1 của Quang Trung, góp một phần lớn vào công cuộc giải phóng kinh thành Thăng Long, thống nhất đất nước và phát triển nền văn hiến Thăng Long.

2. Các nhà giáo dục

          - Mảnh đất Thanh Trì cũ đã sinh ra nhiều bậc hiền tài, tiêu biểu là danh nhân, Vạn Thế Sư biểu Chu Văn An (người làng Quang Liệt, nay là phường Thanh Liệt). Ông là người Việt Nam đầu tiên mở trường tư thục trên khu đất rộng, sát bờ sông Tô Lịch, thuộc làng Huỳnh Cung (xã Tam Hiệp cũ), thu hút rất đông học trò theo học. Một huyền thoại vẫn được lưu truyền về ngôi trường và nhân cách, đạo đức của ông gắn liền với việc cảm hoá của thuỷ thần hồ Lân Đàm (Bảo Ninh Vương), hi sinh thân mình làm mưa chống hạn cứu dân. Di tích Văn chỉ Chu Văn An ở Huỳnh Cung được hình thành từ thời Trần, là nơi thờ tự Chu Văn An và các vị đỗ đại khoa trong huyện Thanh Trì cũ.

          - Đội ngũ Tiến sĩ làm nghề sư phạm, là niềm tự hào của miền quê có truyền thống hiếu học, thành danh như: Tiến sĩ Nguyễn Nha (Tả Thanh Oai), cử nhân Đoàn Triển (làng Hữu Thanh Oai) làm quan Hiệp biện Đại học sĩ đã viết các tác phẩm giáo dục nổi tiếng như Ấu học lịch sử giáo khoa thư, Nam quốc chính sự lược giáo khoa thư; nhà giáo, danh nhân Ngô Thì Sĩ (Tả Thanh Oai).

3. Các nhà khoa bảng, văn hoá

          - Đại Thanh là vùng đất có truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt, thành danh. Ngôi làng cổ Tả Thanh Oai nằm bên sông Nhuệ thuộc xã Tả Thanh Oai, có tên nôm là làng Kẻ Tó, 1/6 làng khoa bảng tiêu biểu của kinh thành Thăng Long với 12 vị tiến sĩ đỗ đại khoa, thuộc hai dòng họ Nguyễn và họ Ngô, đóng góp lớn nhất cho đất nước về văn học, giáo dục và khoa cử Nho học; tiêu biểu như Đệ nhị Tiến sĩ Nguyễn Chỉ, nhà chính trị, văn hoá nổi tiếng như Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm,… là những danh nhân kiệt xuất, học vấn sâu rộng, vừa là quan văn, tướng lĩnh, vừa là nhà sử học, nhà thơ có nhiều đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước. Đã có câu ca dao, tục ngữ thể hiện: Họ Ngô một bồ Tiến sĩ.

          - Ngô gia văn phái (thế kỷ XVIII - XIX) là một nhóm các nhà văn thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, nổi tiếng với sự nghiệp sáng tác đồ sộ, phong phú (khoảng 15 tác giả, 9 thế hệ). Đây cũng là tên bộ sách tập hợp tác phẩm chữ Hán/Nôm của họ, nổi bật với các tác giả Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm. Các tác phẩm bất hủ như: Đại Việt sử ký tiền biên (Ngô Thì Nhậm); An Nam nhất thống chí tức Hoàng Lê nhất thống chí (tác giả chính Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du)

- Nét độc đáo riêng của từng thôn, từng vùng trên địa bàn xã được phản ánh qua những câu ca dao, tục ngữ:

          - Phản ánh về nơi có nhiều tài năng đặc sắc:

Rượu Kẻ Mơ, thơ Kẻ Lủ

Lò vật Quỳnh Đô, giò của Cổ Điển

          - Về tính cách, phẩm hạnh, tài năng của dòng họ Ngô (vùng đất khoa bảng Tả Thanh Oai, con trai nhiều người đỗ đạt, con gái đảm đang, chiều chồng, giúp chồng thành tài):

Họ Ngô một bồ Tiến sĩ / Kẻ Tó văn ba, cao khoa Kẻ Lủ

Hay:

Bánh dầy nếp cái, con gái họ Ngô

          - Làng Siêu Quần có nhiều người tài giỏi bốn phương tụ họp về:

Siêu bạt Siêu Quần, cao quan Kẻ Lủ

4. Di tích lịch sử, cách mạng

Hiện nay trên địa bàn có 65 di tích lịch sử văn hoá (gồm 18 Đình, 20 Chùa, 01 Đền, 03 Miếu, 03 Văn chỉ, 17 nhà thờ họ ...), trong đó có 34 di tích được xếp hạng gồm: 22 di tích xếp hạng cấp Quốc gia, 12 di tích xếp hạng cấp Thành phố và 4 địa điểm gắn biển di tích cách mạng kháng chiến. Các di tích tiêu biểu nổi bật như:

- Đình Vĩnh Ninh - thôn Vĩnh Ninh là ngôi đình đặc biệt vì thờ tam vị thành hoàng làng có nguồn gốc Nhiên thần là: hai vị thần Bạch xà Thần vương (ông Rắn), Thổ địa Thần vương (ông Đất) và Thượng đẳng phúc thần Trương Tử Nương (còn gọi là Bà Tía).

- Đình Hoa Xá- Thôn Tả Thanh Oai thờ thờ Thành hoàng làng là Vua Lê Đại Hành và Đô hồ phu nhân (Bà chúa Hến). Nơi đây còn lưu giữ 16 đạo sắc, trong đó sớm nhất còn lại là sắc phong năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710); kế đến là 2 sắc phong thời Tây Sơn của Hoàng đế Quang Trung năm thứ 3 (1790) và Cảnh Thịnh năm thứ 5 (1797); hai con ngựa đá do danh nhân Ngô Thì Nhậm cung tiến.

Ngoài ra, còn có Đình Hữu Từ (thôn Hữu Từ), Đình Hữu Trung (thôn Hữu Trung) cũng là nơi thờ Bà chúa Hến.

- Cụm di tích bao gồm: Nhà thờ và lăng mộ danh nhân Ngô Thì Nhậm được xây dựng ở giữa làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, nay thuộc thôn Tả Thanh Oai, xã Đại Thanh; di tích được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng cấp quốc gia năm 1994; không chỉ là nơi tưởng niệm một danh nhân đã có công lớn với dân với nước mà còn là nơi giáo dục truyển thống cho nhân dân.

- Đình Quỳnh Đô- Thôn Quỳnh Đô nơi thờ tự Thành hoàng làng là Thái uý Tô Hiến Thành. Tương truyền: ngài có quan hệ thân tình, mật thiết với nhân dân Quỳnh Đô, có lần ngài cùng công chúa Quỳnh Nga về thăm sới vật Kẻ Đô, xem buổi thi đấu, ngài tỏ lòng thán phục và nói rằng: trai Kẻ Đô thật xứng đáng là những Đô tử. Gái Kẻ Đô thùy mị, nết na, dẫu không phải lá ngọc cành vàng nhưng so với Quỳnh (tức công chúa Quỳnh Hoa) thì chảng kém hồng nhan. Vì thế, ngài đặt tên làng là Quỳnh Đô. Khi Ngài mất, nhân dân Quỳnh Đô thương tiếc, tôn Ngài là Thành hoàng làng và thờ phụng cùng với phu nhân ngài là Lã Thị Kim Dung (người thôn Lạc Thị). Nhớ công lao của Ngài, các triều vua Lê, Nguyễn sau này đã nhiều lần phong sắc cho ông và tôn Ngài là bậc Thượng đẳng thần.

- Chùa Huỳnh Cung có tên chữ là Sùng Phúc tự, nằm trên khu đất cao ráo, thoáng đãng ở đầu phía tây thôn Huỳnh Cung, xã Đại Thanh, kiến trúc chính quay hướng nam; Chùa ra đời gắn liền với sự tích Thành hoàng làng là Hùng Bác Đại Vương ở thời Hùng Vương thứ 17. Di vật cổ nhất hiện còn trong chùa là hai bệ tượng đá cùng những chân tảng đá trang trí hình cánh sen, mang phong cách nghệ thuật thời Lý ở Thượng điện; một số bia đá, chuông đồng niên đại Thành Thái năm thứ 7(1895), cùng nhiều hoành phi, câu đối, bát hương, bình gốm sứ, hoành phi hay tấm bia Hậu phật bi ký dựng vào tháng 9 năm Vĩnh Hựu (1735-1740).. Với những di vật này, có thể khẳng định ngôi Chùa được khởi dựng từ khá sớm và là một trong những ngôi Chùa cổ nhất hiện còn trong vùng. Chùa Huỳnh Cung được xếp hạng là Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1989.

- Chùa Quỳnh Đô tên chữ là Bạch Minh tự, hay Linh Thông tự, nằm ở phía đông của thôn Quỳnh Đô. Đây là vùng đất đã phát hiện di chỉ và hiện vật của người Việt cổ ở đất chùa Thông cách ngày nay hơn 2.700 năm. Ngôi chùa được xây dựng trên thế đất cao ráo, quay hướng đông nam, phía trước là đình Quỳnh Đô, gần sông Tô Lịch. Như vậy chùa Quỳnh Đô là một di tích nằm ven sông, với bố cục phía trước là Đình, phía sau là Chùa theo kiểu tiền Thần-hậu Phật.

Trong kháng chiến chống pháp, chùa là cơ sở bí mật, nơi hội họp của chi bộ Đảng và cán bộ hoạt động cách mạng. Cả đình và chùa Quỳnh Đô là địa điểm đặt Trạm y tế cấp cứu thương binh trong 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thủ đô “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” năm 1946. Chùa Quỳnh Đô được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hoá cấp Quốc gia năm 1989.

- Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, thôn Tả Thanh Oai: nơi Bác Hồ về thăm và tát nước chống hạn cùng nhân dân xã Tả Thanh Oai (cũ) ngày 12/1/1958.

- Địa điểm lưu niệm Bác Hồ về thăm, chúc tết cán bộ và nhân dân tại thôn Huỳnh Cung: Bác Hồ về chúc Tết Nhân dân và thăm hỏi gia đình chính sách tại thôn Huỳnh Cung vào mùa xuân Quý Mão năm 1963.

5. Lễ hội truyền thống

Đại Thanh có 14 lễ hội được tổ chức tại 14 thôn từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch hàng năm, hội chính được tổ chức từ 3-5 năm một lần bao gồm đầy đủ các nghi lễ: dâng hương, tế lễ, lễ rước và tổ chức các trò chơi dân gian. Các lễ hội tiêu biểu gồm:

- Hội làng Vĩnh Ninh bảo lưu truyền thống văn hoá gắn với tín ngưỡng nông nghiệp, nhằm nhằm tôn vinh ân đức, ghi tạc công lao và thể hiện sự tôn kính đối với hai vị Thần vương và nữ tướng Trương Tử Nương (Bà Tía). Điểm đặc sắc của lễ hội là tục rước kiệu đón Nàng Tía từ miếu ra đình; đoàn rước mỗi khi đến đầu các điểm ở mỗi xóm đều dừng lại để cầu an cho dân làng. Lễ hội có tế lễ, rước kiệu, dâng hương, có tổ chức chơi cờ người, chọi gà, đấu vật và đánh quân chạy chờ (là trò chơi bắt nguồn từ việc Hai Bà Trưng tuyển quân đánh giặc; ngày nay trò này thay bằng môn đấu vật).

- Hội làng Quỳnh Đô cũng là để tôn vinh, ghi nhớ ân đức, công lao với Thành hoàng làng là Thái uý Tô Hiến Thành- Một vị quan đại thần thanh liêm, chính trực của hai triều vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông, nguyên lão của triều Lý. Đặc trưng của lễ hội có tế lễ, rước kiệu, dâng hương; trò chơi dân gian gồm chọi gà, đấu vật và cờ tướng; trong đó môn đấu vật là nét văn hóa truyền thống thượng võ lâu đời, thường được tổ chức trong các dịp lễ hội đầu xuân. Sới vật Quỳnh Đô được coi là nơi nuôi dưỡng tinh thần thượng võ, một trong những "giỏ cua" cổ điển về vật võ.

- Hội làng Siêu Quần nhằm tôn vinh ân đức, công lao đối với 2 vị nhân thần, Thành hoàng làng là: Trịnh Thượng đẳng thần, Hổ lang Đại vương – tức Trịnh Khả, bậc khai quốc công thần thời Lê Sơ và Nguyễn Thượng đẳng thần, Đông Hải Đại Vương- tức Nguyễn Phục, nho thần thời Lê Thánh Tông. Điểm đặc biệt của lễ hội là hội thi bơi thuyền từ bến đình, ngược lên hướng bắc rổi quay lại (tại sông Tô và sông Nhuệ, khoảng 1km); có tế lễ, rước kiệu, dâng hương và các trò chơi dân gian.

6. Xã có hàng vạn người con ưu tú tham gia chiến đấu trong các cuộc kháng chiến; thống kê cho thấy xã đang thực hiện chế độ chính sách cho 877 đối tượng, trong đó: 46 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, 151 thương binh, 57 bệnh binh, 7 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đầy, 8 gia đình được tặng bằng khen có công với nước; 42 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, 139 gia đình là thân nhân trực tiếp của liệt sỹ, 17 người là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, 410 người hưởng chế độ dành cho người thờ cúng liệt sỹ. Đối tượng bảo trợ xã hội có 2834 người.